DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BIỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Tài liệu thẩm định dự án CRSD



Tài liệu thẩm định dự án CRSD
Toàn văn tài liệu thẩm định đối với khoản tín dụng đề xuất cho dự án CRSD.

I. BỐI CẢNH CHIẾN LƯỢC
A. Bối cảnh quốc gia và của ngành  
1. Việt Nam được coi là “một câu chuyện thành công” chính về phát triển. Với tỷ lệ tăng trưởng được duy trì ở mức cao trong thập kỷ qua, năm 2009 tổng thu nhập quốc dân theo đầu người đã đạt mức 1.010 USD, giúp cho Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình (MIC). Trong hai thập kỷ qua, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ mức 58% năm 1990 xuống còn 29% năm 2000 và còn khoảng 9,5% năm 2010. Mặc dù có những thành tựu ấn tượng như trên nhưng một số lượng lớn các hộ gia đình Việt Nam vẫn còn dễ bị ảnh hưởng bởi dễ bị gián đoạn sinh kế hoặc khả năng chi tiêu bấp bênh do các nguy cơ tự nhiên, bất ổn kinh tế vĩ mô và/hoặc áp lực ngày càng lớn đối với nguồn tài nguyên của đất nước. 2. Việc song song tồn tại giữa tăng trưởng nhanh và mức độ dễ bị ảnh hưởng (ngày càng) cao cũng áp dụng đối với ngành thuỷ sản Việt Nam, trong đó bao gồm cả khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Ngành thuỷ sản đã đạt được mức tăng trưởng 1rất nhanh trong hai thập kỷ qua. Việt Nam hiện xếp thứ ba về sản xuất nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ) và xếp thứ sáu về xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản. Tiêu thụ thuỷ sản trong nước cũng đang tăng nhanh chóng, trong đó gần 50% protein trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam là từ các sản phẩm thuỷ sản.2 Mặc dù ngành thuỷ sản Việt Nam có mức tăng trưởng nhanh chóng và có tầm quan trọng về kinh tế - xã hội ngày càng lớn như vậy nhưng ngành lại đang có những nguy cơ (at risk) do nguồn tài nguyên cho khai thác hải sản đang bị kiệt quệ, các vấn đề về môi trường và dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản đang tăng, số lượng lớn các đối tượng hoạt động trong ngành thuỷ sản đang gặp phải các khó khăn về tài chính, và uy tín quốc tế của ngành chưa có. 3. Có những dấu hiệu rõ ràng (evident) rằng mức tăng trưởng về khai thác hải sản của Việt Nam trong những năm qua là không bền vững. Trong những năm qua tăng trưởng về sản lượng khai thác đã gần như chững lại, trừ việc khai thác các loài thuỷ sản ít giá trị hơn. Năng suất khai thác giảm3 trong khi tỷ lệ “cá tạp” và cá cỡ nhỏ trong sản phẩm khai thác cập bến ngày càng tăng4. Việc khai thác quá mức đặc biệt rõ rệt tại các khu vực ven bờ, vốn là ngư trường của khoảng 85% các tàu/thuyền đánh cá của cả nước và là nguồn sinh kế cơ bản của các cộng đồng ven biển nghèo hoặc cận nghèo. Nghề cá ven bở đang trải qua hiện tượng kinh điển “bi kịch của số đông” bởi quá nhiều ngư dân hiện đang cạnh tranh với nhau tại khu vực mà nguồn lợi được “khai thác tự do”, không còn đủ và ngày càng bị thu hẹp, góp phần vào việc huỷ hoại môi trường sống của thuỷ sản. Các lợi ích ngắn hạn của các cá nhân ngư dân không hoà hợp với các lợi ích lâu dài của các cộng đồng ven biển và cần phải có sự quản lý nguồn lợi một cách bền vững.

4. Ngày càng có nhiều thách thức trong việc duy trì sản xuất nuôi trồng thuỷ sản do các rủi ro về quản lý dịch bệnh và ô nhiễm môi trường ngày càng tăng. Sự tăng trưởng của tiểu ngành nuôi trồng thuỷ sản là một hiện tượng, đặc biệt là trong thập kỷ qua. Năm 2008, Việt Nam chiếm khoảng 5% sản lượng nuôi trồng thuỷ sản toàn cầu – gấp ba lần so với một thập kỷ trước. Dịch bệnh hiện là rủi ro sản xuất chính; Cũng có những vấn đề tiềm ẩn trong việc tìm kiếm con giống bố mẹ và con giống có chất lượng cao. Việc mở rộng nuôi trồng thuỷ sản cũng đã góp phần gây tác hại và ô nhiễm cho môi trường. Trong những năm qua nhiều người nuôi trồng thuỷ sản quy mô nhỏ đã phải từ bỏ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản do dịch bệnh và/hoặc các khó khăn về tài chính. B. Các vấn đề về thể chế và kỹ thuật của ngành 5. Cần phải chuyển từ quy hoạch ngành (manh mún) sang quy hoạch không gian tổng hợp cho các nguồn lợi ven biển. Trách nhiệm về quy hoạch vùng ven biển lại nẳm rải rác (cut cross) trong các bộ, ngành khác nhau. Các nhà quy hoạch và hoạch định chính sách thực hiện công việc của mình dựa trên cơ sở những dữ liệu hạn chế, trong đó bao gồm ước tính về trữ lượng thuỷ sản hiện có, mẫu hình khai thác thuỷ sản, và thậm chí số lượng các tàu/thuyền đánh cá hoạt động tại các địa điểm khác nhau. Các tỉnh, thay vì có sự hợp tác, thì lại có sự cạnh tranh lẫn nhau, do đó thường dẫn đến việc đầu tư trùng lặp (ví dụ các bến cá, cảng trú bão cho tàu/thuyền), không nhất quán hoặc thậm chí mâu thuẫn. Các đầu tư dự kiến của tư nhân thường không được thể hiện trong các kế hoạch của Chính phủ. Trong khi có một số sáng kiến do nhà tài trợ hỗ trợ về quản lý tổng hợp vùng ven biển đã được thực hiện thí điểm tại một số tỉnh duyên hải nhưng cách tiếp cận đó vẫn chưa được thể chế hoá hoặc được áp dụng rộng rãi. Ngoài ra, việc củng cố hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá5 cũng rất cấp thiết. 6. Đồng quản lý có thể giúp thực thi các quy định và nâng cao tính bền vững của các nguồn lợi thuỷ sản gần bờ. Năng lực khai thác quá mức cộng với các thực hành khai thác huỷ diệt đang gây ra tổn thất nặng nề đối với đa dạng sinh học, chất lượng các nguồn lợi, và tính khả thi về sinh kế của rất nhiều cộng đồng ven biển6. Đến nay một số thí điểm về đồng quản lý nghề cá đã được thực hiện tại các hệ thống sinh thái khép kín (ví dụ các đầm phá, hồ chứa), nhưng chưa thử nghiệm đồng quản lý tại các khu vực ra vào tự do, ví dụ các khu vực ven biển. Nghị định số 33 được Chính phủ ban hành năm 2010 đã quy định rõ ràng việc giao các khu vực ven biển cho chính quyền địa phương và các cộng đồng ngư dân thực hiện các mô hình đồng quản lý qua việc thành lập quan hệ đối tác (giữa chính quyền địa phương-cộng đồng). Để đưa quy định này vào thực hiện trong thực tế thì các cộng đồng ngư dân địa phương cũng như chính quyền địa phương sẽ cần được hỗ trợ để nâng cao năng lực thực hiện những trách nhiệm mới của mình. 7. Cải thiện các điều kiện vệ sinh và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cảng cá và bến cá có thể nhanh chóng thu hồi được lợi ích lớn cho ngành (high return to the sector). Cả nước có trên 80 cảng cá nhỏ và hàng trăm bến cá truyền thống; tuy nhiên hầu hết những cảng cá/bến cá này thiếu các cơ sở cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cần thiết cho ngư dân (ví dụ đá ướp lạnh sạch, sửa chữa tàu/thuyền, vá lưới). Trong điều kiện thời tiết nóng bức thì chất lượng sản phẩm thuỷ sản dễ bị hư, hỏng nghiêm trọng trước khi đến được các nhà máy   chế biến hoặc các chợ đầu mối. Thiệt hại về giá trị các sản phẩm khai thác được ước tính từ 20-30%, dẫn đến thiệt hại đáng kể về kinh tế cho các hộ ngư dân, công suất chế biến thuỷ sản hoạt động dưới mức thiết kế một cách trầm trọng, và ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng xung quanh khu vực các bến cá và chợ đầu mối. 8. Các Thực hành nuôi trồng thuỷ sản tốt (GAP) có thể là giải pháp chính để quản lý dịch bệnh và các rủi ro về môi trường. Mỗi năm dịch bệnh gây ảnh hưởng cho khoảng 30 -70% tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản, làm giảm sản lượng và khiến cho nhiều người nuôi bị mất trắng. Trong nuôi tôm, thì dịch bệnh chủ yếu là do con giống chất lượng thấp và con giống nhiễm bệnh gây ra; hiện nay vẫn chưa có hệ thống cấp giấy chứng nhận nguồn cung con giống có chất lượng và đảm bảo thực hiện thực hiện đầy đủ các biện pháp đảm bảo an toàn sinh học tại trại nuôi. Các cơ quan thú y của nhà nước hiện nay về giám sát, khống chế và ứng phó với dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản còn yếu. Người nuôi thường sử dụng thuốc kháng sinh và hoá chất để đối phó với các nguy cơ dịch bệnh, và như thế làm ảnh hưởng đến uy tín của sản phẩm thuỷ sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. Để hỗ trợ việc áp dụng rộng rãi GAP cho người nuôi, thì một loạt các cơ quan nhà nước trong đó gồm những cơ quan có trách nhiệm về an toàn sinh học, về thực hiện các biện pháp thú y và giám sát môi trường cần phải được nâng cao năng lực. 9. Giải quyết những rủi ro và thiếu sót của ngành đòi hỏi phải có nỗ lực chung và lâu dài. Sau hơn hai thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng (phần lớn không được kiểm soát) thì ngành thuỷ sản cũng đã làm nảy sinh ra một loạt các thách thức phức tạp. Có thể ngành đã có được những tiến bộ quan trọng trong chuỗi giá trị của các sản phẩm thuỷ sản nhưng những tiến bộ này cần được củng cố hơn nhờ khung quy định được cải thiện và thực thi và theo khuôn khổ định hướng chiến lược là chú trọng vào tính bền vững và chất lượng. Việc giải quyết những thách thức của ngành và định hướng ngành theo hướng bền vững có thể sẽ mất cả thập kỷ hoặc lâu hơn nhưng những cơ hội đạt được các lợi ích đối với kinh tế-xã hội và môi trường là rất lớn và những lợi ích quan trọng có thể đạt được trong những năm tiếp theo. 10. Quy hoạch tổng thể mới của ngành cần chuyển định hướng từ việc đạt được các chỉ tiêu tăng sản xuất và sản lượng khai thác sang cải thiện hơn nữa quản lý các nguồn lợi ven biển, cải thiện quản lý rủi ro, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm. Quy hoạch tổng thể phát triển thuỷ sản đến năm 2010 đã hết hạn năm ngoái và Chính phủ đang trong quá trình chuẩn bị bản Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2020. Cần có các nghiên cứu để hỗ trợ Bộ NN & PTNT và các tỉnh ven biển trong công tác quy hoạch quan trọng này. C. Các mục tiêu ở tầm cao hơn của Dự án  11. Chiến lược Phát triển ngành thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16 tháng 9 năm 2010 (Quyết định số 1690/2010/QĐ-TTg) có định hướng lại sự phát triển của ngành thuỷ sản nhằm chú trọng hơn vào chất lượng sản phẩm và tăng trưởng bền vững. Dự án CRSD sẽ hỗ trợ Bộ NN & PTNT trong việc thực hiện Chiến lược Phát triển mới. Dự án CRSD phù hợp với mục tiêu của Chiến lược Đối tác Quốc gia (CPS) là tạo ra và duy trì các cơ hội phát triển trong khi ngày càng chú ý hơn đến việc quản lý nguồn tài nguyên (Trụ cột II). Thông qua việc góp phần vào nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm các thiệt hại thực tế, thì Dự án cũng sẽ góp phần vào việc thực hiện chương trình hành động  của CPS về (nâng cao) tính cạnh tranh (Trụ cột I). Thông qua việc hỗ trợ các hộ gia đình ngư dân dễ bị ảnh hưởng thì Dự án cũng sẽ có đóng góp khiêm tốn vào chương trình hành động của CPS về giảm nghèo và tạo cơ hội kinh tế (Trụ cột III). Dự án cũng sẽ đáp ứng được mục đích phát triển của Chính phủ Việt Nam là nâng cao khả năng chống chịu của các vùng ven biển trước biến đổi khí hậu, nâng cao tính bền vững trong các hạng mục đầu tư cơ sở hạ tầng ven biển và thúc đẩy hiệu quả hơn nữa tính cạnh tranh của nền kinh tế dựa vào nguồn lợi tại
13
các khu vực ven biển. Dự án CRSD sẽ giúp hỗ trợ thêm các công cụ khác của Ngân hàng, trong đó công cụ cho vay đầu tư cụ thể (SILs) tập trung vào quản lý tài nguyên nước và quản lý rủi ro thiên tai, và công cụ cho vay thực hiện chính sách phát triển (DPL) chống biến đổi khí hậu.

Tập tin đính kèm Tải xuống

Bình luận của bạn