DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BIỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Biên bản ghi nhớ - Đợt công tác giám sát dự án lần thứ hai (phần 2)



Biên bản ghi nhớ - Đợt công tác giám sát dự án lần thứ hai (phần 2)
Biên bản ghi nhớ giữa Phái đoàn giám sát lần hai của IDA và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD)

Tiếp theo phần 1
12.    Hợp phần D. Quản lý, giám sát và đánh giá dự án. Hợp phần này gồm 02 tiểu hợp phần:

D1- Quản lý dự án. PCU và các PPMU đã tuyển được đầy đủ cán bộ với các vị trí chủ chốt bao gồm giám đốc, phó giám đốc, kế toán, bảo vệ, cán bộ kế hoạch, cán bộ giám sát đánh giá, và các bộ phận kỹ thuật. Ban Chỉ đạo dự án cũng đã được thành lập ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh. Ban này đã bắt đầu những cuộc họp định kỳ để hướng dẫn cho PCU và các PPMU. Đã đào tạo tập huấn cho cán bộ dự án, tập trung vào nội dung công việc và lập kế hoạch ngân sách, giám sát đánh giá, quản lý dự án, đấu thầu và quản lý tài chính, và các biện pháp an toàn môi trường và xã hội. Các kế hoạch công tác chung cho PCU và các PPMU đã được MARD và UBND các tỉnh phê duyệt.
D2- Giám sát đánh giá. Dự án CRSD được chọn làm thí điểm thực hiện chương trình đánh giá sơ bộ tác động của Ngân hàng Thế giới. Một hội thảo đã được Ngân hàng tổ chức vào đầu tháng 10 năm 2012, và tại đó một dự thảo kế hoạch thực hiện đã được thông qua. Kế hoạch ngân sách cho đánh giá tác động đã được soạn thảo và đề cập trong cả đề án GEF.
13.    Đấu thầu mua sắm: Kế hoạch đấu thầu mua sắm 18 tháng của PCU và các PPMU đã được cập nhật. Một vài gói thầu đã được gửi đến Ngân hàng để xét duyệt và đã được chấp thuận. Việc khởi động đấu thầu mua sắm ở PCU và PPMU đang tiến triển tốt. Dự thảo hồ sơ mời thầu (RFP) cho các gói hỗ trợ kỹ thuật chính đã được Ngân hàng chấp thuận.
14.    Quản lý tài chính: các tài khoản chỉ định (DAs) đã được mở cho PCU và các PPMU và các quỹ IDA ban đầu đã được chuyển vào các tài khoản này. Nhân viên kế toán đã quá đào tạo được bổ nhiệm vào PCU và các PPMU. PCU và các PPMU cũng đã thành lập đội kiểm toán nội bộ của riêng mình. Những cập nhật về phần mềm kế toán trên máy tính cũng đã hoàn chỉnh và được xét duyệt bởi phái đoán thẩm định từ Ngân hàng. Hầu hết các chi phí phát sinh cho đến nay đều được tài trợ bởi nguồn vốn đối ứng của chính phủ Việt Nam, vốn dành cho thiết kế kỹ thuật của các chương trình cơ sở hạ tầng và tiền lương cho nhân viên chính phủ.
15.    Các biện pháp bảo hộ: Đánh giá môi trường (OP / BP 4.01), môi trường sống tự nhiên (OP/BP 4.04), tái định cư bắt buộc (OP 4.12), và người dân bản địa (OP 4.10) đã được khởi động dựa theo dự án mẹ. Dự án mẹ này đã được phân vào loại B về Môi trường. Các nhân viên bảo hộ đã được bổ nhiệm vào PCU và mỗi PPMU và họ được đào tạo thực hành thông qua việc xét duyệt những văn bản về các biện pháp bảo hộ được chuẩn bị cho các công trình cơ sở hạ tầng của Ngân hàng. Không có báo cáo nào nghiêm trọng về vấn đề bảo hộ.
16.    Thu hồi đất. Hầu hết việc tu sửa, nâng cấp các công trình dân dụng trong năm 1 không liên quan đến việc thu hồi đất và/hoặc tài sản cá nhân. Trong trường hợp có mua lại đất tư nhân và/hoặc tài sản hoặc việc này sẽ ảnh hưởng đến kinh doanh của các hộ gia đình địa phương, các PPMU đã được hướng dẫn sử dụng các khuôn/mẫu đã được cung cấp để chuẩn bị cho kế hoạch hành động tái định cư (RAP) cho các tiểu dự án. Tất cả RAP đều phải được Ngân hàng xét duyệt trước khi thực hiện.
17.    Phát triển dân tộc thiểu số: Kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số (EMDP) được tập trung vào tỉnh Sóc Trăng, nơi có một số lượng lớn người dân tộc Khmer sống tại các khu vực ven biển của dự án. EMDP đã nhận được góp ý của các chuyên gia Ngân hàng và hiện đang được hoàn tất. PPMU tỉnh Sóc Trăng phải nộp bản cuối cùng cho Ngân hàng nhằm nhận được sự chấp thuận trước khi triển khai thực hiện. Dự kiến EMDP sẽ tạo cơ hội cho những hộ gia đình dân tộc thiểu số (EM) có thể nhận được các lợi ích xã hội và kinh tế từ các hoạt động của dự án theo phương diện phù hợp về mặt văn hóa. Theo như dự đoán, việc thực hiện không có tác động bất lợi nào đến các dân tộc thiểu số.
18.    Bình đằng giới: Dựa trên các đánh giá xã hội, dự án sẽ tiến hành phân tích thành phần giới trong cộng đồng ngư dân. Việc này được coi là một phần của kế hoạch trù bị cho đồng quản lý. Một kế hoạch xây dựng bình đẳng về giới tính sẽ được thiết lập để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong việc lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá các kế hoạch đồng quản lý.
19.    Bảo vệ môi trường: Tất cả việc nâng cấp các công trình dân dụng được thực hiện trong năm thứ 1 đã được sàng lọc theo khung quản lý môi trường xã hội của Dự án (ESMF). Một văn kiện cam kết bảo vệ môi trường (EPC) đã được xây dựng cho mỗi tiểu dự án và là đối tượng để Ngân hàng xét duyệt trước khi thực hiện. Việc chuẩn bị các EPC đang tiến triển thuận lợi và một số văn kiện đã nhận được sự chấp thuận của Ngân hàng.
20.    Khuyến nghị. Phái đoàn có các khuyến nghị cho giai đoạn sáu tháng tiếp theo (tháng 6 năm 2013) như sau:
• Hợp phần A: Tổng cục Thủy sản là đầu mối trong (a) tổ chức và tiến hành đào tạo tập huấn ISP cho các tỉnh, (b) hoàn chỉnh kế hoạch nâng cấp Hệ thống Cơ sở dữ liệu nghề cá Việt Nam, và (c) xây dựng các điều khoản tham chiếu cho việc nghiên cứu về hỗ trợ thực hiện kế quy hoạch tổng thể mới cho nghề cá.
• Hợp phần B: Tổng cục Thủy sản tiếp tục cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho PCU và các PPMU trong việc (a) thiết lập và quản lý các địa điểm trình diễn GAP, (b) cải thiện cơ sở hạ tầng an toàn sinh học cho các khu vực nuôi được lựa chọn, (c) xem xét danh mục thiết bị được mua sắm cho Chi Cục Thú y (d) xem xét kế hoạch đầu tư cho khu vực trại giống SPF ở Ninh Vân, Khánh Hòa và (e) giám sát và quản lý môi trường tại các khu vực GAP.
• Hợp phần C: Tổng cục Thủy sản tiếp tục cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho PCU và các PPMU trong việc (a) thực hiện sắp xếp đồng quản lý trong cộng đồng ngư dân được lựa chọn trong năm 1, (b) giám sát tiến độ và chất lượng nâng cấp các bến và cảng cá đã được lựa chọn.
THẨM ĐỊNH BỔ SUNG VỐN CHO CRSD
21.    Bối cảnh. Dự án CRSD (vay 100 triệu USD từ IDA) đã được phê duyệt ngày 10 tháng 5 năm 2012 và có hiệu lực vào ngày 02 Tháng 11 năm 2012, dự kiến kết thúc ngày 31 tháng 1 năm 2018. Mục tiêu phát triển của dự án là cải thiện quản lý bền vững nghề cá ven biển ở các tỉnh có dự án. Dự án có bốn hợp phần sau: (a) tăng cường năng lực thể chế trong quản lý thủy sản bền vững, (b) thực hành tốt nuôi trồng thuỷ sản bền vững (c) quản lý bền vững đánh bắt thủy sản gần bờ, và (d) quản lý dự án, giám sát và đánh giá. Dự án đang được thực hiện tại 8 tỉnh: Cà Mau và Sóc Trăng (Nhóm các tỉnh đồng bằng sông Mekong), Khánh Hòa, Phú Yên và Bình Định (Nhóm các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ); và Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa (Nhóm các tỉnh Bắc Trung Bộ). Các cơ quan thực hiện dự án bao gồm MARD và UBND của 8 tỉnh dự án.
22.    Lý do bổ sung vốn tài trợ. Dự án CRSD ban đầu được thiết lập với sự đồng tài trợ giữa IDA và GEF. Khoản 6,5 triệu USD từ GEF dự kiến để tài trợ cho Hoạt động A (a) Quy hoạch không gian liên ngành vùng ven bờ và Hoạt động C (a) Đồng quản lý nghề cá ven bờ. Vì sự chậm trễ trong việc chờ thư xác nhận từ Chính phủ Việt Nam (CPVN), các hoạt động ban đầu chỉ được tài trợ bởi IDA. Sau khi nhận được thư xác nhận của Chính phủ, tiền từ quỹ GEF sẽ được tập trung vào các mục đích dự định ban đầu, và quỹ IDA đã phát hành sẽ được sử dụng cho các hoạt động khác của dự án. Chính phủ đã chính thức gửi thư xác nhận. Phái đoàn trong tháng 9 năm 2012 đã nhất trí rằng quỹ GEF sẽ được xử lý thông qua các thủ tục bổ sung tài chính của Ngân hàng. Theo yêu cầu của GEF, Ban Thư ký GEF (GEFSEC) đã tiến hành đánh giá riêng. Một văn bản ghi nhớ do Giám đốc điều hành ký đã được thông qua.
23.    Đề xuất sử dụng quỹ GEF. Như dự định ban đầu, quỹ GEF sẽ được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động A (a) Quy hoạch không gian liên ngành vùng ven bờ và Hoạt động C (a) Đồng quản lý nghề cá ven bờ. Mô tả chi tiết của các hoạt động này được trình bày trong Phụ lục 2 của Tài liệu thẩm định dự án (PAD) của dự án mẹ. Việc bổ sung tài chính của GEF cho dự án CRSD là một trong 06 dự án bao gồm trong Tài liệu chương trình khung của WB-GEF (PFD) đã được GEF phê duyệt trong năm 2011, và cũng là một trong những dự án trong Đề xuất mức trung bình (MSP) về Quản lý Tri thức (KM) sẽ được thực hiện bởi các đối tác về quản lý môi trường cho vùng biển Đông Á (PEMSEA). Trong quá trình thực hiện dự án, các bài học kinh nghiệm sẽ được các PEMSEA MSP tiếp thu và phổ biến cho các đối tác và các bên liên quan. Bảng 1 dưới đây tóm tắt các chi phí và vốn của dự án đã sửa đổi, và chỉ rõ tình hình sử dụng các quỹ GEF. Thông tin chi tiết được trình bày trong Phụ lục 1.
Bảng 1 – Chi phí và vốn tài trợ của dự án đã được sửa đổi (Triệu US$)
Hợp phần của Dự án    Chi phí của Dự án    Vốn tài trợ của IDA    Vốn tài trợ của GEF    Chính phủ VN and Nguồn lực địa phương
    (US$ M)    (US$ M)    (%)    (US$ M)    (%)    (US$ M)    (%)
Hợp phần A:    6.8    5.3    78%    1.5    22%    0    0%
Hợp phần B:    48.1    39.9    83%    0.0    0%    8.2    17%
Hợp phần C:    57.2    44.8    78%    5.0    9%    7.4    13%
Hợp phần D    12.3    10.0    81%    0.0    0%    2.3    19%
Tổng chi phí của Dự án    124.4    100    80%    6.5    5%    17.9    14%

24.    Khoản vay 6,5 triệu USD từ Tín dụng của IDA, rút ra sau kết quả của việc đề xuất bổ sung tài chính từ GEF, sẽ được phân bổ cho Hoạt động (C) Phục hồi các cảng cá và bến cá để tài trợ cho thêm 2-3 cảng hoặc bến cá khác, vốn đã được thẩm định với tư cách là một phần của dự án mẹ. Tái phân bổ các quỹ này sẽ được xét duyệt và đề xuất trong quá trình đánh giá giữa kỳ (MTR) vào năm 2015.
25.    Tóm tắt thẩm định. Không có thay đổi trong việc thẩm định dự án mẹ về khía cạnh kinh tế, tài chính, tài khóa, kỹ thuật, quản lý tài chính, đấu thầu mua sắm, môi trường và xã hội.
26.    Hướng dẫn mua sắm: Bổ sung vốn chỉ đơn thuần là một nguồn tài trợ bổ sung cho các dự án hiện tại mà không cần thay đổi nhiều các hợp phần và các hoạt động của dự án mẹ, EASOS đã làm rõ việc sử dụng Hướng dẫn 2010 (Hướng dẫn tuyển chọn và thuê tư vấn do Bên vay của Ngân hàng Thế giới tháng 5 2004 sửa đổi năm 2006 và tháng 5 năm 2010; và Hướng dẫn: Mua sắm theo các khoản vay IBRD và Tín dụng IDA tháng 5 năm 2004, sửa đổi vào tháng 10 năm 2006, và tháng 5 năm 2010) để phù hợp với dự án mẹ.
27.    Quản lý tài chính: Do quỹ GEF sẽ sớm được thành lập, PCU cần tiếp tục kiểm tra để đảm bảo rằng hệ thống kế toán được nâng cấp để có thể theo dõi riêng nguồn vốn của GEF. Tổ kiểm toán nội bộ cũng cần được đào tạo. Tiến độ thực hiện những công việc này sẽ được thẩm định trong đoàn giám sát tiếp theo khi quỹ GEF chính thức có hiệu lực.
28.    Khung Kết quả và Giám sát của AF cũng giống như của Dự án CRSD (Phụ lục 2) với việc nắm bắt các chỉ số về tình hình hoạt động tài trợ của GEF. Trong MTR, nếu Chính phủ Việt Nam quyết định sử dụng các khoản tiết kiệm của IDA để tài trợ cho các bến và cảng cá bổ sung, Chỉ số kết quả trung gian C4 sẽ được sửa đổi để phản ánh số lượng cảng cá, bến cá bổ sung.
29.    Rủi ro. Những rủi ro chung khi thực hiện dự án mẹ đã được đánh giá là đáng kể, và mức đánh giá này sẽ áp dụng đối với dự án sử dụng vốn bổ sung. Khung đánh giá rủi ro hoạt động (ORAF) đã được cập nhật trong văn kiện của dự án sử dụng nguồn vốn bổ sung.
    
Các bước tiếp theo
30.    Thời hạn xử lý AF cho dự án CRSD đã được nhất trí như sau:
• Các gói đàm phán được gửi đến Ngân hàng Nhà nước: 07 Tháng 02 năm 2013
• Văn bản góp ý từ Ngân hàng Nhà nước: 22 tháng 02 năm 2013
• Hội đồng quản trị phê duyệt: 26 Tháng 3 năm 2013
• Có hiệu lực: Ngày 01 Tháng 7 năm 2013.
31.    Phái đoàn giám sát đánh giá tiếp theo đối với dự án CRSD được dự kiến vào tháng 4 hoặc tháng 5 năm 2013 để tiếp tục cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho PCU và các PPMU khi phần lớn các lĩnh vực hoạt động bắt đầu khởi động.

Tập tin đính kèm Tải xuống

Bình luận của bạn