DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BIỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Đồng quản lý nguồn lợi ven biển – chập chững nhưng đầy triển vọng



Đồng quản lý nguồn lợi ven biển – chập chững nhưng đầy triển vọng
Trong dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững, đồng quản lý đánh bắt ven bờ nằm trong hợp phần C. Đây được coi là một trong những hoạt động thí điểm của dự án bởi vì đồng quản lý khai thác ven bờ hiện chưa được thể chế hóa tại nước ta.

Đồng quản lý được hiểu là sự chia sẻ trách nhiệm quản lý tài nguyên giữa chính quyền và nhóm cư dân sử dụng tài nguyên, cả chính quyền và cộng đồng đều tham gia vào quá trình ra quyết định và thực thi quản lý tài nguyên bền vững.

Khó khăn và thách thức

So với người anh em song sinh là ngành Lâm nghiệp với hoạt động đồng quản lý hay hoạt động tương tự như quản lý rừng cộng đồng, đồng quản lý trong ngành Thủy sản đặc biệt trong khai thác ven bờ đối mặt với nhiều khó khăn hơn.

Thứ nhất, nếu nghề rừng có thể xác định được diện tích cho đồng quản lý tương đối dễ dàng thông qua cắm mốc phân lô trên đất liền thì việc này vô cùng khó khăn với nghề cá. Mặt nước Biển Đông bao la với sóng với gió không dễ gì có thể cắm mốc cắm phao để xác định được diện tích đồng quản lý cho mỗi cộng đồng nghề cá ven bờ. Thêm vào đó, dù sự thay đổi về địa mạo do sự di chuyển cát của biển có phần không lớn nhưng phần nào cũng ảnh hướng tới việc xác định ranh giới.

Thứ hai, nếu tài nguyên rừng có thể tạm coi là tài nguyên tĩnh vì chúng ta có thể điều tra đo đếm số cây, trữ lượng gỗ và dự đoán tăng trưởng thì tài nguyên dưới mặt nước khó có thể định lượng. Chúng ta không nhìn thấy dưới mặt nước có bao nhiêu cá; hơn nữa đàn cá di chuyển từ nơi này sang nơi khác nên việc tính toán tài nguyên ven bờ là một thách thức lớn kể cả đối với những nhà khoa học.

Thứ ba, xuất phát từ khó khăn thứ hai, việc hưởng lợi đối với nghề cá ven bờ cũng khó tính toán. Nếu nghề rừng có thể xác định được tôi được hưởng bao nhiêu gỗ khi lập gia tề thất ra ở riêng, được hưởng lợi bao nhiêu khi rừng thành thục thì nghề cá khó có thể xác định được lợi ích khi tham gia hoạt động đồng quản lý.

Thứ tư, việc quản lý tài nguyên rừng dễ dàng hơn nhiều khi chúng ta tiến hành tuần tra kiểm soát. Việc khai thác gỗ trái phép có thể được phát hiện do khai thác tốn thời gian, vận chuyển khó khăn do đường rừng và khi vận chuyển ra đường lớn vẫn có thể bị bắt gặp bởi các lực lượng chức năng. Khai thác trái phép trên biển tương đối dễ dàng vì đâu cũng là đường đi, dù bị phát hiện những chưa chắc đã bị bắt nếu tàu công suất lớn.

Thứ năm, công tác quản lý ven bờ tốn kém hơn nhiều so với ngành Lâm nghiệp. Việc tuần tra trong nghề rừng có thể đi bộ, đi xe đạp, xe máy; nhưng tuần tra ở biển đòi hỏi phải có tàu thuyền trong khi lượng nhiên liệu sử dụng cho tàu thuyền lớn hơn nhiều so với lượng nhiêu liệu sử dụng trên bộ.

Khởi đầu gian nan – bước đi chập chững nhưng đáng nể

Khó khăn kể trên không làm chùn bước những người tiên phong. Trong hơn hai năm thực hiện dự án CRSD, số lượng các tổ đồng quản lý ngày một tăng, hoạt động đồng quản lý cũng dần định hình và bắt đầu những bước đi đầy triển vọng của mình. Dù chưa được đánh giá cao nhưng những việc đồng quản lý đã làm được là không thể chối bỏ.

Thứ nhất, về mặt tổ chức. các tổ đồng quản lý khai thác ven bờ đã được thành lập với quy chế được người dân đồng thuận và ủng hộ. Các hoạt động tuần tra, kiểm soát được người dân thực hiện, nhiều vụ đánh bắt trái phép được người dân ngăn chặn, trình báo và được xử lý.

Thứ hai, ở hầu hết 8 tỉnh dự án chúng ta có thể thấy được sự thay đổi trong nhận thức dần dẫn đến thay đổi hành vi của ngư dân. Trước đây, việc đánh bắt hủy diệt bằng việc sử dụng thuốc nổ, ngư cụ trái phép là phổ biến đối với hầu hết cộng đồng dân cư. Hiện nay, việc này dần được hạn chế và chấm dứt ở nhiều cộng đồng. Hơn thế nữa, những ngư dân dù bận bịu với miếng cơm manh áo vẫn dành thời gian cắt cử nhau đi tuần tra để phát hiện các vụ đánh bắt trái phép của cả người trong cộng đồng và người ngoài cộng đồng. Người dân hiểu được rằng việc quản lý tài nguyên bền vững là giữ gìn tài nguyên cho chính họ và chính con cháu của họ. Nhiều ngư dân cảm thấy chưa thỏa đáng khi trình báo các vụ vi phạm nhưng không biết cơ quan chức năng xử lý như thế nào, điều này thể hiện sự cam kết và tham gia nhiệt tình của họ đối với việc quản lý tài nguyên.

Thứ ba, năng lực của ngư dân dần được nâng cao. Người dân biết cách ghi chép nhật ký các vụ vi phạm, tự tổ chức quản lý tốt hơn, biết cách ghi chép theo dõi kết quả khai thác, hiểu hơn về cách thức đánh bắt bền vững. Thêm vào đó, người dân cũng ý thức tốt hơn về môi trường ven biển, nhiều hoạt động như dọn vệ sinh bờ biển hay mặt nước ven bờ cũng được thực hiện.

Thứ tư, nói đến đồng quản lý cũng không thể bỏ qua vai trò của chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng như Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chính quyền, tỉnh, huyện, xã, lực lượng cảnh sát, công an. Các cơ quan này tích cực tổ chức, hướng dẫn người dân và xử lý các vụ việc vi phạm theo pháp luật. Đường dây nóng nhằm thuận tiện cho người dân trình báo các vụ vi phạm cũng được thiết lập ở hầu hết các tỉnh.

Con đường phía trước còn dài

Tuy gặt hái được một số thành tựu nhất định, việc đồng quản lý thành công còn cần nhiều việc phải làm.

Thứ nhất, các nhà khoa học cần vào cuộc để có thể xác định rõ ràng ranh giới đồng quản lý, trữ lượng tài nguyên, xác định khối lượng đánh bắt cho phép đối với một số loài cụ thể, xác định các khu vực cấm đánh bắt do có các loài nguy cấp hay đặc hữu, các khu vực sinh sản…

Thứ hai, công tác tuyên truyền giáo dục cần tiến hành sâu rộng hơn nữa. Tuyên truyền giáo dục có thể thông qua các kênh thông thường như loa phát thanh, truyền hình, báo chí, tập huấn hay các chương trình văn nghệ, các biển báo về tầm quan trọng của việc bảo vệ tài nguyên hay tuyên truyền pháp luật…

Thứ ba, cần tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và người dân trong các hoạt động như tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm. Cơ quan chức năng cũng cần định kỳ phản hồi cho người dân về cách thức xử lý các vụ vi phạm pháp luật đã được người dân trình báo và hỗ trợ người dân trong các hoạt động quản lý tài nguyên.

Thứ tư, về mặt sinh kế, các cơ quan chức năng cũng cần giáo dục người dân cách thức đánh bắt và bảo quản để chất lượng và giá trị đánh bắt cao hơn cũng như cung cấp hạ tầng như nhà phân loại cá có mái che và các hạ tầng liên quan. Tuy nhiên, dù có phương pháp quản lý tài nguyên tốt đến đâu, tài nguyên cũng có thể bị cạn kiệt bởi sức ép tăng dân số. Do đó, các biện pháp để một bộ phận ngư dân thay đổi sinh kế cũng cần tính đến.

Cuối cùng nhưng lại quan trọng nhất đó là các bên liên quan cần tích cực vận động nhằm thể chế hóa công tác đồng quản lý khai thác ven bờ để hoạch động này nằm trong khung chính sách của chính phủ để có thể có đủ các nguồn lực thực hiện thành công.

Thay cho lời kết, tác giả có vài câu lục bát nói lên cảm nghĩ của mình:

Biển Đông cá bạc tôm vàng

Gió ru bờ cát sóng tràn đảo xa

Mà sao nghèo vẫn theo ta

Tóc xơ nắng cháy, làn da sạm màu

Hỏi trời hỏi đất vì đâu

Hãy đồng quản lý một câu trả lời

Giữ cho biển cá muôn đời

Giữ cho bờ cát mãi ngời ý thơ

Các con của mẹ Âu Cơ

Chớ tham lợi ngắn mà lơ lợi dài

Hãy cho con cháu ngày mai

Sang giàu phồn thịnh từ ngài Long Quân

Biển Đông thực sự của dân

Giúp dân giúp nước mạnh dần mai sau.

Tác giả: samvietnam

 

Bình luận của bạn