DỰ ÁN NGUỒN LỢI VEN BIỂN VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững tỉnh Nghệ An



Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững tỉnh Nghệ An
Nghệ An là một trong 8 tỉnh ven biển thực hiện dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới. Nằm trong nhóm các tỉnh duyên hải Bắc Trung bộ tham gia triển khai dự án giai đoạn 2012-2017. Với 82Km chiều dài bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam qua 5 huyện/thị lớn của tỉnh.

     I. GIỚI THIỆU CHUNG

     Dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững vì sự phát triển bền vững được đồng tài trợ bởi Chính phủ Việt Nam và Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA)/Ngân hàng Thế giới (WB), được thực hiện bởi Bộ Nông nghiệp và PTNT và 8 tỉnh dự án: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh; Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa; và Sóc Trăng, Cà Mau.

     Mục tiêu tổng thể của dự án là cải thiện công tác quản lý nghề cá ven bờ theo hướng bền vững tại các tỉnh duyên hải được lựa chọn của Việt Nam. Dự án gồm bốn (04) hợp phần: (A): Tăng cường năng lực thể chế cho quản lý nghề cá bền vững; (B): Các thực hành tốt cho nuôi trồng thủy sản bền vững; (C): Quản lý bền vững khai thác thủy sản ven bờ; (D): Quản lý, giám sát và đánh giá dự án.

     II. BỐI CẢNH TỈNH NGHỆ AN

     Nghệ An là một trong 8 tỉnh ven biển thực hiện dự án Nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD) nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới. Nằm trong nhóm các tỉnh duyên hải Bắc Trung bộ tham gia triển khai dự án giai đoạn 2012-2017. Với 82Km chiều dài bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam qua 5 huyện/thị lớn của tỉnh. Đây là vùng diễn ra nhiều hoạt động của con người với nhiều mục đích sử dụng có thể mâu thuẫn, xung đột lẫn nhau giữa nhiều ngành nghề. Vì thế, việc quản lý, quy hoạch sử dụng vùng ven bờ đang nằm ở nhiều cấp, ban ngành khác nhau. Nhằm giảm thiểu vấn đề này cũng như quản lý nguồn lợi ven biển tốt hơn, tham gia vào dự án sẽ hỗ trợ tỉnh chuyển từ việc tiếp cận quy hoạch theo hướng đơn ngành sang liên ngành. Đặc biệt, ngành thủy sản trong giai đoạn gần đây phát triển kéo theo một lượng lớn lực lượng lao động của vùng. Với hơn 1070ha nuôi mặn lợ tại các vùng ven biển, đối tượng nuôi chủ yếu là nuôi tôm đang mang lại những giá trị kinh tế cao cho người nông dân nhưng cũng đang chịu những thiệt hại lớn do dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, rủi ro do thiên tai gây nên. Tỉnh Nghệ an đã có quy hoạch NTTS mặn –lợ đến năm 2020 nhằm đảm bảo vùng phát triển NTTS theo hướng có sự quản lý của cơ quan nhà nước. Việc tham gia vào dự án góp phần hỗ trợ cộng đồng vùng NTTS nâng cao năng lực thực hành NTTS theo hướng bền vững và thân thiên với môi trường, giảm thiểu các thiệt hại từ rủi ro dịch bệnh, thiên tai.

     Với đặc trưng địa hình, vùng ven biển tỉnh Nghệ An chủ yếu các vùng bãi ngang, vì thế mà hoạt động KTTS nhỏ lẻ tập trung vùng ven bờ cao với nhiều hình thức khác nhau, số lượng tàu thuyền có công suất dưới 20CV nhiều gây áp lực lớn đến nguồn lợi ven bờ. Ngoài các quy định của các cơ quan quản lý nguồn lợi thủy sản ở Nghệ An thì dự án góp phần thay đổi nhận thức, trách nhiệm và cách hành động đối với bảo vệ NLTS vùng ven bờ thông qua các cuộc tuyên truyền, đào tạo/tập huấn và đồng quản lý nghề cá ven bờ.

     II. CÁC HỢP PHẦN VÀ TIỂU HỢP PHẦN

     Hợp phần A: Tăng cường năng lực thể chế cho quản lý nghề cá bền vững (kinh phí ước tính là 320.000 USD, tương đương 6.720 triệu đồng do Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA)/ Ngân hàng TG và quỹ môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ).

    Mục tiêu của hợp phần này là đưa ra hỗ trợ cơ bản nhằm nâng cao tính bền vững của các hợp phần nuôi trồng và khai thác ven bờ. Hợp phần này bao gồm ba tiểu hợp phần: (a) Quy hoạch không gian ven bờ liên ngành; (b) Nâng cấp hệ thống CSLD nghề cá Việt Nam; và (c) Thực hiện một số nghiên cứu chính sách để hỗ trợ triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến 2020 và tầm nhìn đến 2030.

     Hợp phần B: Thực hành tốt nuôi trồng thủy sản (kinh phí ước tính là 3.815.000 USD(~ 80.115 triệu đồng), trong đó 3.109.000 USD (~65.289 triệu đồng) do IDA tài trợ và số còn lại do chính phủ và người hưởng lợi).

    Hợp phần này nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường do tác động của hoạt động nuôi tôm, cải thiện tính bền vững, và thúc đẩy việc đa dạng hóa loài nuôi ngoài tôm ở những vùng thích hợp. Hợp phần này gồm 03 tiểu hợp phần; (a) tăng cường quản lý an toàn sinh học; (b) tăng cường quản lý chất lượng con giống; và (c) cải thiện công tác quản lý môi trường.

     Hợp phần C: Quản lý nghề cá bền vững khai thác thủy sản ven bờ (kinh phí ước tính là 7.503.000 USD (~157.563 triệu đồng), trong đó 6.430.000 USD (~135.030 triệu đồng) do IDA tài trợ và số còn lại do chính phủ tài trợ).

     Mục tiêu của hợp phần này nhằm giải quyết vấn đề áp lực khai thác quá mức trong vùng ven bờ (trong vòng 6 dặm từ bờ) và cải thiện điều kiện vệ sinh, xử lý tại các cảng cá/bến cá. Hợp phần này gồm 02 tiểu hợp phần: (a) đồng quản lý hoạt động khai thác thủy sản ven bờ; và (b) nâng cấp cảng cá, bến cá.

    Hợp phần D: Quản lý, theo dõi và đánh giá Dự án (kinh phí ước tính là 893 USD (~18.743 triệu đồng), trong đó 652.000 USD (~13.692 triệu đồng) do IDA tài trợ và số còn lại do chính phủ tài trợ).

    Hợp phần này sẽ hỗ trợ được cho BQL dự án quản lý, thực hiện và giám sát dự án một cách có hiệu quả; hỗ trợ xây dựn hệ thống theo dõi và đánh giá dự án một cách có hiệu quả. Hợp phần này gồm hai tiểu hợp phần: (a) Quản lý dự án; (b) Theo dõi và đánh giá dự án.

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận của bạn